
Không nói ngoa với độc
giả, tôi tự hào mình là con bé {“thông minh vốn sẵn tính
trời...” Vì là con nhà giáo,
tôi biết đọc năm lên bốn. Và
ở tuổi lên sáu, tôi đã rất khoa học trong công trình nghiên cứu về bố tôi. Tôi lục lọi trong cái rương cũ, tìm thấy thông tín
bạ của ông hồi ông học trường Bưởi, Hà Nội. Trang đầu thông tín bạ có những dòng chữ sau đây:
Tên họ học sinh: Dương Quốc Ngữ
Quê quán: Sơn Tây
Tên cha/hoặc giám hộ: Dương Quốc Nho
Nghề nghiệp: Làm ruộng
Bố tôi đó, một thiếu niên, con cụ Tổng Nho, tổ tiên lập thân từ đồng ruộng làng
Bún, miền Bắc, phía tây thành Thăng Long của nước Việt Nam hình chữ S. Tổ tiên tôi từ đời Trần đã quen nghề cày ruộng lấy thóc bán nuôi con cái đi học.
Điển hình là ông nội tôi, cụ Tổng Nho, nuôi đàn con trai ăn
học, dâng gạo nuôi quân cho Việt Minh đánh Pháp để rồi trở thành nạn nhân của
cuộc cải cách ruộng đất bắt nguồn từ bên Tàu với ông lãnh tụ quái gở Mao Trạch Đông.
Năm 1993, Goldman Sachs, Merril Lynch, Bank of America, cùng bao nhiêu cơ quan kinh tài
quốc tế khác tổ chức một cuộc du hành các nước đang phát triển ở Á Châu để
nghiên cứu vấn đề thiết lập thị trường chứng khoán theo kiểu kinh tế thị
trường. Tôi cũng xách cặp đi theo. Cuộc viễn
du này cho tôi có dịp về thăm Hà Nội. Tôi thuê xe đi về Hà Tây, cùng với hai
đồng nghiệp người Anh vì hiếu kỳ mà tình nguyện đi với tôi. Tôi đi
về làng Bún, đôi mắt tròn lên, lạ lùng, bỡ ngỡ.
Tôi đứng bên bờ đê nhìn
những mẫu ruộng nho nhỏ,
giữa ruộng có những ngôi mộ nằm trong nước. Tôi nhìn con bò, gầy ơi là gầỵ
Con bò Việt Nam, nó gầy cũng như bố tôi gầy trong tấm hình chụp năm 1954. Rồi tôi nhìn cái xe bò, cái xe bò Việt Nam cộc kệch cuối
thế kỷ hai mươi. Và tôi nhìn
hai người đàn bà đứng tát
nước còn gầy ốm hơn con bò. Tôi tìm ra ngôi mộ của cô tôi, chị ruột bố tôi, chết trẻ trong
cuộc chiến tranh Việt Pháp. Ngôi mộ nằm giữa ruộng. Tôi nghĩ thịt xương tổ tiên tôi đã tan vào đất, từ đó mọc
lên những hạt gạo “xuất khẩu” của Việt Nam. Khi ăn hạt gạo xuất khẩu, tôi có
bao giờ nghĩ là đang ăn thịt xương của tổ tiên tôi? Tôi ngửa mặt lên
trời tìm vừng mây trắng.
Xa xa kia là sông Đà, núi Tản của Nguyễn Khắc Hiếu. Đâu đây là nét “vời vợi
buồn Tây Phương” của Quang Dũng.
Tôi mỏi mắt nhìn cho ra một nét quen
thuộc nào đó,
lắng nghe cho thấy “tiếng hát hành quân xa” và tự hỏi: nơi chốn này có yêu
tôi không, hay đang nhìn tôi
xoi mói, tôi con người đi về quê cha trên đôi giầy ReBox?..
Rồi tôi đứng nhìn con đường hẹp đầy
ổ gà. Ngồi xe tôi cứ va bên này, chạm bên kia giữa hai đồng nghiệp người Anh to
lớn. Tôi nhìn sang bên kia đường là
"Nghĩa Trang Liệt Sĩ Xã Phụng Thượng Trong Cuộc Chiến Tranh Chống Mỹ.” Bên này
đường là "Quán Thịt Chó Thơm Ngon." Đây,Con Đường Cái Quan của Phạm
Duy từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, con đường mà bà nội
tôi đã đội nón lá đi
bộ dưới nắng chang chang trốn ra Hà Nội ngày ông bà nội tôi bỏ làng vô Nam để
tránh thảm trạng Đấu Tố Địa Chủ.
Tôi nhắc đi nhắc lại như người mất hồn với hai đồng nghiệp:
--“Sao mà nó nhỏ thế, con đường này, đồng ruộng này, đường chân trời này!” (How
come everything is so small ?)
--“Ông nội tôi bị kết tôi. địa chủ vì có chút đồng ruộng này
sao ?” (My grandfather got a death sentence because of these little paddies?)
Hai người đồng nghiệp nhún vai, không nóị. Tôi không nghe tiếng linh hồn cô tôi
đón chào trong gió. Quanh tôi chỉ có hai đồng nghiệp người Anh im lặng đứng nhìn.
Tất cả không giống như trí tôi tưởng tượng. Khi tôi đã quen nhìn xa lộ thênh thang của nước
Mỹ, những vườn táo mênh mông ở Illinois, những vườn cam bát ngát ở Florida. Tôi
cứ hỏi đi hỏi lại, ông tôi suýt
nữa bị dẫn ra đình làng chịu đấu tố chỉ vì ít mẫu ruộng này ư? Trong
bao nhiêu năm nghe ông bà tôi kể chuyện, không hiểu sao tôi cứ tưởng tượng
ruộng đất phải bao la cò bay
thẳng cánh như tiểu bang Arizona. Phải nhiều lắm, lớn lắm thì mới bị tố địa chủ chứ?
Bây giờ sau chuyến về thăm đó, tôi mới biết thế nào là sự nho nhỏ, con con, như
cái nước Việt Nam trên bản đồ thế giới, như cái số phận nho nhỏ, con con của
con bò, của cái xe bò, của hai người đàn bà tát nước. Ngay cả
đến ruộng đất phì nhiêu đã gây nên cái án địa chủ cho ông bà nội tôi cũng nho nhỏ, con con. Cái
thảm khốc của nhân loại lại nằm ở trong những gì nho nhỏ, con con?
Trong công trình nghiên cứu về bố tôi năm lên sáu, tôi bắt gặp
tấm ảnh 4 x 6 của một cậu con trai, dán trên thông tín bạ. Cậu có hai con mắt
dài, xếch như một nét mực tàu sắc sảo. Khi lớn lên, tôi mới hiểu đó là cặp mắt Sơn
Tây đã làm xót xa lòng Quang Dũng. Bên nội tôi,
đa số đều có cặp mắt đó. Ngay cả những đứa em họ sinh sau đẻ muộn làm công dân
Mỹ, lọt lòng mẹ trong nhà
thương Mỹ, cũng mang vào Hợp Chúng Quốc
Hoa Kỳ cặp mắt Sơn Tây của núi rừng Việt Bắc và hồn thơ Quang Dũng.
Mẹ tôi kể trong thời gian học trường Bưởi, bố tôi theo học phong cầm với một
ông cố đạo. Rồi mua đàn của ông. Đó là tiểu sử chiếc phong cầm của bố tôi. Nó
xuất thân từ nước Ý, du nhập vào Hà Nội đầu thập
niên 50.
Khi di cư vào Nam, ông bà tôi đi trước, bố tôi là người cuối cùng rời Hà Nội
vào Nam. Bố tôi đáp xe lửa từ Hà Nội xuống Hải Dương, rồi đạp xe đạp từ Hải
Dương xuống Hải Phòng. Bố tôi để cây
đàn ghi-ta, thêm cái phong cầm lên xe đạp mà đạp. Trên đường đi, ông bán mất
cái ghi-ta. Bán luôn đôi giày da. Nhưng không bán chiếc phong cầm. Bố tôi lên
tàu bay vào Nam, có chiếc phong cầm mà không có đôi giày che gót. Tôi mường
tượng cậu con trai có cặp mắt Sơn Tây đạp xe đạp, đèo theo chiếc phong cầm,
những vòng bánh xe cũng
giống như những vòng bánh xe
bố tôi đạp chở tôi đi học dương cầm ở Huế.
Chiếc phong cầm theo cậu trai trẻ lên máy bay từ Hải Phòng vào Sài Gòn. Rồi vào trại sinh viên.
Bố tôi sống nghèo ở miền Nam mà đi học trong kiếp di cư. Chiếc phong cầm luôn
luôn đi theo ông như một tình
nhân yêu kiều, chung thủỵ.
Rồi bố tôi ra Hội An, dạy trường Trần Quý Cáp, vẫn khư khư giữ cái phong cầm. Tôi
ra đời trong tình yêu của bố mẹ và
được tặng cho cái tên Duong Thị Như Hội An, để đánh dấu thành phố nơi bố mẹ tôi
đã gặp nhau. Sau này mẹ
tôi đổi thành Duong Thị Như Hoài An để tránh dấu nặng trong tên con gái. Ngày
mẹ tôi ẵm tôi từ bệnh viện về nhà, chắc là cái phong cầm đứng nhìn đâu đó, mà tôi thì nhắm tít mắt như mọi trẻ sơ sinh khác.
Rồi bố tôi đi Pháp. Khư khư đem cái đàn theo. Mẹ tôi phàn nàn: “Ở bên ấy thiếu
gì đàn, vậy mà
cha con cũng đem nó theo cho được.” Mẹ con chúng tôi
ở nhà, chứ cái đàn thì đi Pháp theo
bố tôi.
***
Công cuộc nghiên cứu về bố tôi năm tôi lên sáu tuổi vẫn tiếp tục suốt thời gian
1964-65. Tôi kiếm thấy bức hình đen trắng bố
tôi ngồi bên lan can căn phòng
sinh viên ở đại học xá lầu bốn. Paris trải rộng dưới
chân. Bố tôi gầy như cây tăm, ngồi ôm chiếc phong cầm, gác hai chân lên lan can
màu đen, nom rất thoải mái và rất “hip.” Tôi nhìn bức hình ấy mà mơ ước
sau này mình cũng đi du học
Paris và cũng ngồi gác chân lên lan can nhìn xuống thành phố. (Tôi đâu ngờ rằng, sau
này lớn lên tôi làm một cuộc du học trường kỳ...).
Rồi thì cái đàn theo bố
tôi về nước. Và tôi gặp nó ở căn phố Nguyễn Trường Tộ, Huế. Lần này thì tôi thôi không nhắm tít mắt như một trẻ
sơ sinh nữa.
Tôi nhớ mãi buổi chiều mưa
phùn xứ Huế. Tôi trốn bố tôi (tôi thường hay chơi trò “trốn tìm”) sau bức màn cửa phòng khách. Bố tôi đánh đàn xong thì để nó trên ghế. Thế là tôi nhảy tỏn ra. Tôi
đứng mân mê, sò mó cái đàn. Tôi bấm
thử, sao đàn không ra tiếng? Tôi khệ nệ tìm cách đeo nó vào cổ. Tôi say mê, nâng niu nó. Ôi tiếng hát hành quân
xa với những chiều Chủ nhật buồn không nắng trong căn nhà nóng hâm hấp lặng
nghe gió đi về! Ai xui khiến cho cái đàn này làm mọc chất nghệ sĩ trong tôi! Để ba mươi bốn năm sau
tôi từ bỏ Goldman Sachs? Tôi muốn ẵm nó lên để đu đưa như bố tôi. Nhưng
nặng quá. Cứ thế này thì
nếu tôi không té, cái
đàn cũng sẽ té.
Bỗng bố tôi bước vào. Tôi sợ muốn khóc vì bị bắt quả tang, tưởng rằng sẽ bị đòn. Nhưng không, nét mặt bố
tôi bình thản, đôi mắt Sơn Tây như hai vết mực tàu sắc
nét. Đó là lúc ông thấy tôi bé quá không bê nổi chiếc phong cầm. Ông quyết định
đem tôi đi gặp Sơ Thanh Tâm để xin học đàn dương cầm.
Từ hôm đó, sáng nào ông cũng gọi tôi dậy
sớm, bắt uống sữa, thay váy đầm. Rồi chở xe đạp đưa tôi đến trường Jeanne d'Arc
học đàn...
Chung qui cũng bởi tại cái phong cầm của bố tôi.
***
Bạn đọc có tin rằng cái chết không kết liễu đời người, vì phần hồn còn đi về đâu đó. Bởi thế mẹ tôi cứ cúng tổ tiên ông
bà, bắt tôi thắp nhang mà lạy. Người Việt Nam chúng ta thờ linh hồn những người
thân đã chết.
Năm lên sáu, tôi tự hỏi vật vô tri chết đi có còn phần hồn vất vưởng hay không. Năm 1964, chiếc
phong cầm gặp tôi, rồi nó mất đi. Và tôi thắc mắc mãi phần linh hồn của nó đi đâu ? Và tôi thắp
nhang cúng nó được không?
Xứ Huế không phải là xứ yên bình. Cái yên bình của Huế chỉ là yên bình giả tạo. Những năm
1963-65, Huế là một ngọn lửa cách mạng hừng hực, sẵn sàng bừng cháỵ Từ chùa Từ
Đàm. Đó lần đầu tiên trong đời tôi được nghe danh từ “cách mạng.”
Tôi phải lớn hơn mới hiểu được căn bản của vấn đề. Nếu có Cách Mạng, thì làm gì có Hoài An? Mà đã có Hoài An thì không có Cách Mạng. Từ năm lên sáu, ở
thành phố Huế buồn ngủ ấy, tôi chưa đủ trí tuệ để hiểu thế nào là đấu tranh,
nhưng tôi đã mường tượng một
điều gì ghê sợ. Rằng tôi
sinh ra trong một xứ sở có nhiều vấn đề. Những vấn đề ấy ở ngoài tầm tay tôi,
nhưng chúng tạo nên định mệnh của tôi, như lưới giăng, như cơn lốc kéo thốc tôi
vào.
Dấu hiệu bất an đầu tiên là ngày Phật Đản. Một ngày vui mừng tôi và các em tôi
mong mỏi để được xem xe hoa. Thế nhưng mẹ tôi cấm không cho chúng tôi đi xem.
Xe hoa đi ngang nhà tôi, mẹ tôi không cho chúng tôi ghé đầu ra xem. Bảo nguy
hiểm. Chúng tôi vẫn thấy được tượng Phật đứng trên tòa sen trắng nõn, tay chỉ lên trờị. Nom Phật
bụ bẫm dễ thương. Em tôi bảo: "Sao Phật giống em bé quá!"
Chỉ một lúc sau xe hoa vừa đi khuất, bà vú đã chạy vào thì
thầm, “Công an giựt sụp xe hoa rồi, Phật đổ.” Tôi cho rằng đó là chuyện kinh
khủng. Cái gì đổ thì đổ, chứ Phật làm sao đổ được. Điều ghê sợ khủng
khiếp nhất, một sự lật đổ nào đó ngoài tầm tay những người dân bình thường, đã bắt đầu ám ảnh tôi.
Thường thường mẹ tôi hay cho chúng tôi đi chùa Từ Đàm. Nhưng năm đó, chúng tôi
không được lên chùa, mặc dù tôi thích lên chùa để được múạ: “Một hôm, một hôm
mồng một đến chùa, cùng me đi lễ Phật, dâng vài hoa sen.” Bà vú thì thầm, “Hoài An ơi, lên chùa thì công an bắt!” Tôi nín bặt vì sợ.
Bên cạnh những cái điều bất an đó, bố tôi vẫn kéo phong cầm để nói chuyện với
tôi qua Tiếng Hát Hành Quân Xa và Lời Buồn Thánh.
***
Thuở ấy, tôi không biết mặt những người bạn văn nghệ của bố tôi, từ họa sĩ Đinh Cường cho đến nhà văn Doãn Quốc Sĩ. Tôi chỉ nhớ có một ngườị. Đó là chú M., một nhạc sĩ. Tôi rất yêu chú M. Chú ấy vui tính và buồn
cười lắm. Cả nhà ai cũng yêu mến chú M. Trừ bà vú:
--“Ôn nớ là nhóm cách mạng chống Cần Lao đó Hoài An ơi!. Ôn nhà ni mà cứ giao
du hoài là ngày cậu Cẩn tới chặt đầu.”
Bà vú nói chi ghê quá. Tôi hỏi Cần Lao là gì? Bà vú bảo Cần Lao là cậu Cẩn đó. Tôi hỏi cậu Cẩn là ai? Có giống
chú M. không? Bà vú nói: “Con ni ngu quá. Nói tầm bậy coi chừng bị chặt đầu.
Hay chết kiểu Quách Thị Trang.” Tôi không dám hỏi bà vú Quách Thị Trang là ai,
tôi biết đó là một người đã chết. Tôi co
người lại vì sợ.
Trong những ngày tháng đó, bố tôi ít nói, ít kéo phong cầm. Cái đàn nằm cô đơn.
Thỉnh thoảng chú M. vẫn ghé chơi. Hai người đóng cửa phòng nói chuyện rì rào.
Rồi một hôm, chú M. lại ghé thăm. Bố tôi mặc áo đi theo. Ông dặn mẹ tôi ông
sang nhà chú M. ở phía bên kia sông Bến Ngự. Dãy phố Nguyễn Trường Tộ nằm bên này sông. Bên kia
cầu là nhà thờ Phủ Cam. Bên trái nhà thờ là một dãy nhà kiểu Tây rất đẹp. Một
trong những căn nhà đó là nhà chú M. ở. Bố tôi dặn gia đình là ông sẽ đi khá lâu. Ông đi theo chú M. Đã ra đến cửa, ông còn quay lại lấy chiếc phong
cầm. Cái đàn đi theo ông qua nhà chú M.
Đó là lần cuối cùng tôi nhìn
thấy chiếc đàn. Tôi linh cảm cái gì không hay sẽ xảy ra. Tôi chạy theo nắm áo bố tôi đòi đi theo. Tôi bíu chiếc đàn như muốn giữ nó
lại.Chú M. chế giễu tôi con gái hay khóc nhè.
***
Tối đêm đó, tôi đang ngủ say thì có tiếng khóc than, tiếng
bà ngoại tôi kêu la. Tiếng người xôn xao ngoài ngõ. Nghe dễ sợ lắm. Tôi chạy ra thảng thốt. (Từ đó lớn
lên, tôi rất sợ những khi đang ngủ thì bị thức dậy vì biến cố)
Tôi vẫn còn nhớ tiếng người
nói: “Nhà ai cháy? Công an đốt nhà ai?” Tôi nghe mẹ tôi nức nở, “Trời Phật ơi,
phải nhà chú M. không? Mạ ơi, anh con ở bên nhà chú M..Thôi rồi mạ ơi...”
Tôi thấy mọi người đổ xô ra cửa. Tôi cũng chạy ù ra. Mẹ tôi nắm chặt tay tôi. Bà vẫn kêu khóc.
Ông ngoại tôi điềm tĩnh hơn. Ông nói, “Đã chắc chi ông Ngữ ở bên
đó. Để ba mặc áo lên chùa. Hay qua dinh cha Thục hỏi...” Mẹ tôi vẫn điên cuồng
kéo tay tôi và bà ngoại xô ra đường.
Đám đông đứng đầy dọc bờ sông Bến Ngự bên hông nhà tôi. Chỉ trỏ xôn xao. Tôi nhìn qua bên kia sông. Ngọn lửa ngùn
ngụt cháy. Tôi thấy bên kia bờ sông có bóng dáng những người cầm súng. Người
đứng quanh tôi nhỏ to, “Công an đốt truyền đơn.” Mẹ tôi ngất xỉu. Bà ngoại tôi
vật vã. Tôi kêu khóc không
thành tiếng. Phía bên kia sông lửa ngùn ngụt cháy, ở đó có chú M., bố tôi, và
chiếc phong cầm. Tôi nhìn thấy lần đầu
tiên cái kinh khủng của cách mạng. Nói đúng hơn của bạo lực đã đốt lửa cho
cách mạng.
Đó
là lần đầu tiên tôi thấm hiểu trong trí óc non nớt của mình, tôi sinh ra trong một đất nước
của những người dân thích làm
cách mạng.Của những người dân
hay mang kiếp tù đày. Lý do?
Tây, Tầu, Nga, Mỹ? Cái nghèo, cái cực, cái nô lệ, cái xâm lăng? Vân vân và vân
vân. Trước Chúa bác ái, trước Phật từ bi, chúng ta cầm súng giết nhau đi rồi
gọi đó là cách mạng.
Ông ngoại tôi nói đúng. Một
ngày sau bố tôi về. Một cơn ác mộng vừa qua.
Tôi đứng xớ rớ tìm cách lắng nghe
chuyện người lớn. (Tôi là một đứa nhỏ rất thích nghe chuyện người lớn, âu đó cũng là cái nghiệp chướng của tôi. Có khi tôi nghĩ tự mình là mất tuổi thơ vì cái đầu tôi tò mò ưa suy nghĩ.) Tôi nghe ra được chú M. chạy trốn
lên chùa. Nhà thì cháy tan
nát. Mẹ và bà ngoại tôi đốt nhang khấn bàn thờ tạ ơn tổ tiên trời đất đã cứu bố tôi.
Tôi đứng trước cửa nhà nhìn
qua bên kia sông. Ngọn lửa đã tàn. Cảnh tượng tiêu điều
thảm hại. Lần đầu tiên tôi chứng kiến sự u ám của những gì còn lại sau một cuộc tàn
phá.
Chú M. không cháy. Bố tôi không cháy. Còn chiếc phong cầm? Phải chăng nó cháy giùm cho bố và chú M.
yêu mến của tôi? Tôi òa khóc chạy vào nhà. Mẹ và bà
ngoại tôi còn trong cơn mừng rỡ, còn lo nhang đèn. Không ai
nghĩ đến chiếc phong cầm xấu số.
Tôi nức nở trong lòng bố tôi. Nhưng
ông nghiêm mặt cấm không cho tôi khóc. (Những người bố Việt Nam, ai cũng ghét than khóc, cho đến ngày họ già. Bây
giờ trong tuổi sáu mươi ngoài, bố tôi mau nước mắt. Thỉnh thoảng là tròng mắt đỏ hoe. Mắt ông hay đỏ
hoe khi các con về thăm rồi lại đi, còn lại căn nhà yên vắng với hai vợ chồng thui thủi)
***
Bố tôi nói lên điều mà tôi đã
biết:
--Cái đàn cháy trong nhà chú M.
Tôi vụt khỏi vòng tay của bố
tôi. Tôi chạy ra đứng trước cửa nhà nhìn sông Bến Ngự. Tôi nghe có ngọn gió đi về. Chiều chủ nhật buồn
lặng nghe gió đi về. Trên ngọn gió đi về, có chăng linh hồn chiếc phong cầm của
bố tôi?
Từ đó, bạn đọc có thể đoán ra, bố tôi chẳng bao giờ kéo phong cầm nữa.
***
Bà vú nói, cách mạng thành công và Phật tử khỏi bị đàn áp. Tôi thôi không học
trường Jeanne D'Arc nữa. Tôi đổi về trường Phú Vĩnh. Hình
Ngô Tổng thống treo trên tường bị hạ xuống. Đem ra đập lìa. Cách đó không bao lâu, lũ trẻ con chúng
tôi vẫn còn hát, “Toàn dân Việt Nam nhớ ơn
Ngô Tổng thống...”. Sau cách mạng, Ông ngoại tôi, một công chức dưới triều Ngô,
nghỉ việc về hưu sớm.
Cách mạng thành công, nhưng tương lai công danh bố tôi chẳng sáng sủa gì hơn. Có kẻ không ưa bố tôi, làm nên sự
vụ lệnh đổi bố tôi vào dạy ở Quảng Trị, chốn bom đạn chiến trường. Mặt bố tôi
càng khó đăm đăm hơn. Mẹ tôi dạy Đồng Khánh. Bố tôi về Quảng Trị, tức là vợ một
nơi, chồng một ngả.
Sáng sớm tinh sương, thành phố Huế như có sương mù. Bà ngoại tôi lặn lội về
làng đem lên những đòn chả Huế. Bà
ngoại tôi, Quế Hương, pháp danh Tịnh Tâm, là người phụ nữ làm chả Huế, chả tôm
ngon nhất thế giới. Tôi vẫn nhớ hình ảnh bà xương xương, đội nón bài thơ, mặc áo
dài vân nhung (phụ nữ Huế của thời đại tôi biết không bước ra khỏi nhà mà không
mặc áo dài.) Trời tờ mờ sáng, bà đã hiện ra ở cửa nhà tôi, tay xách cái giỏ thật lớn, đựng
không biết bao nhiêu là đòn chả. Mẹ tôi lặng
lẽ gói từng đòn chả để bố tôi đem đi tặng
đồng nghiệp mới ở Quảng Trị.
“Ở Quảng Trị cũng có học trò,” bố tôi nói. Bố tôi đó, con người của giáo khoa
thư! Ông tỉnh táo, yên phận, “lành như Bụt” đối với người đời (chỉ khó khăn với
người trong nhà mà thôi), ông vui vẻ mà đi Quảng Trị nhận công vụ, không phàn
nàn than thở. Theo lời mẹ tôi kể, thì ông đi nhận việc rất đúng giờ. Ông đi cùng với
những đòn chả Huế mẹ tôi
gói rất cẩn thận đem
cho đồng nghiệp. Ông còn đem phòng thêm nhiều đòn chả nữa để cho học trò mới, có đứa nào ngoan, học giỏi thì cho nó đòn chả lấy tình.
Ôi tình nghĩa giáo khoa thư!
Lần này ông đi không có chiếc phong cầm.
(Mãi về sau khi khôn lớn,
tôi mới biết người đã đem bố tôi ra
khỏi Quảng Trị (để bố mẹ tôi được trùng phùng) là giáo sư Trần, thời gian ông
làm Tổng Trưởng Bộ Giáo Dục Đệ Nhị Cộng Hòa. Mẹ tôi nói bà vẫn luôn nhớ ơn bác Trần. VấVietna đề nhớ ơn
là “tiết mục” văn hóa giáo khoa thư! Chứ ở Mĩ, tôi không rõ trong số đồng nghiệp tôi, ai là kẻ nhớ ơn Goldmand Sachs...)
***
Từ đó, khi chiếc phong cầm đã
chết, bố tôi đi
Quảng Trị, thì tôi lại trở về làm đứa trẻ con quây quần
bên ngoại, đứa trẻ con vắng bố.
Cuối năm 1963, con bé Hoài An lên sáu như già đi. Đầu óc non nớt đã lờ mờ hiểu thế nào là sự sụp đổ của một
chế độ. Khi chế độ sụp đổ, có thể có súng ống, có lửa cháy, có tan cửa tan nhà,
có người phải đi trốn chạy như chú M. đi trốn trong chùa, có ảnh, với hình, với tượng đá, với đồ
treo bị đem ra đập bỏ, xé tan. Có những sự mất mát tận gốc rễ tâm hồn như cái
chết của chiếc phong cầm sau ngày lửa cháy. Và tôi lờ mờ hiểu rằng, ở chế độ
nào đi nữa, con người cũng có thể hại
nhau...Như việc bố tôi phải từ giã gia đình đi Quảng Trị.
Cái mà chúng ta phải xây dựng là một nơi chốn cho chúng ta cơ hội để đi tìm sự công bằng tương đối....
***
Mười hai năm sau, 1975, tất cả những điều mà tôi nhận thấy ngày lên sáu tôi vừa
liệt kê cho độc giả trên đây đã
xẩy ra, lập lại. Như cái cộng nghiệp của một nơi chốn, một đám đông. Cái
định mệnh của tôi. Một cá nhân nhỏ bé bị cuốn trôi vào dòng lịch sử.
Tôi hiểu thấu đáo. Hiểu nhiều quá đến nỗi mắt tôi ướt và tôi nhói ở tim. Chúng
tôi, tất cả chúng ta, cũng như cái phong
cầm. Trôi nổi theo bàn tay bố tôi rồi chôn thân ở nhà chú M. theo lửa cháy.
Người Mĩ nói là, “be in the wrong place, at the wrong time.” Chiếc phong cầm
nằm sai chỗ, ở sai lúc. Đôi khi tôi phân vân tự hỏi, nếu tôi không là người
Việt sinh trưởng ở miền Nam, và nếu tôi không là một trong mấy trăm ngàn người
Việt di tản đầu tiên đến Mĩ, thì định mệnh của tôi thế nào? Như chiếc phong
cầm, tôi là kẻ sinh sai chỗ, ở sai nơi, hay là người may mắn, ở đúng chỗ, nằm
đúng nơi?
Tất cả, trong vòng quay của lịch sử, chỉ là tương đối.
***
Khoảng một tháng trước ngày Saigon sụp đổ, chú M. chạy ở Huế vào, có ghé thăm
bố mẹ tôi nhưng ông bà không có nhà. Chú cháu tôi nấu ăn với nhau rất vui vẻ.
Có ngờ đó là lúc chia tay.
Sau khi sang Mĩ, bố tôi vẫn nhắc người bạn cũ. Ông rất ân hận đã không gặp được chú M. trước
khi di tản. Bao nhiêu năm ở Mĩ, thỉnh thoảng
trong bữa ăn, bố tôi vẫn nhắc đến chú M. Ông không hề nhắc tới chiếc phong cầm.
Đến năm 1995 thì có tin chú M.
qua Mĩ, sau khi đã đi tù cải tạo
rồi lập lại cuộc đời. Chú ghé thăm bố mẹ tôi ở Texas, tôi không gặp vì tôi ở xa. Mẹ tôi
bảo lúc nào chú cũng tự tin, yêu đời, ở hoàn cảnh nào cũng có thể thành công hết.
Khi viết những dòng này, tôi vẫn chưa gặp
lại chú. Không biết chú có nhớ chuyện chiếc phong cầm của bố tôi?
***
Bây giờ, trong những tháng ngày về già, sắp từ giã nghề dạy học để về hưu, bố tôi có lẽ không có
những người bạn như chú M. nữa.
Ông hay nhắc tới những người học trò cũ trường Trần Quý Cáp. Chắc đó là một
khoảng đời đẹp trong nghề dạy học của bố tôi.
Trong những ngày đã rời Goldman
Sachs, có lần tôi mang bố mẹ đi mua sắm. Gặp một thương gia chủ cửa hàng cũng là học trò cũ
của bố tôi ở quận học chánh Houston. Vị thương gia tay bắt mặt mừng, bảo
rằng khách thường thì lấy giá X.,
khách đặc biệt sẽ giảm giá tối đa, giá Z. Còn thầy học thì
bớt 10 phần trăm, tức là giá Y, giá “ở giữa.” Vì bố tôi là thầy dạy, ông được hưởng giá
giảm hạng vừa, hạng “ở giữa.”
Một lần khác nằm trên ghế dài, tôi thấy bố tôi ở trên lầu đi đọc cuốn sách của
một nhà văn Việt Nam, ông P.X.Đ., sách viết về Hà Nội. Tôi nhắc đến tên ông.
Mắt bố tôi sáng lên: “Anh ấy cũng
đi tù cải tạo nhiều năm như
chú M. đấỵ.” Tôi thắc mắc mãi
về câu bố tôi nói, và ánh mắt sáng của ông. Tại sao mắt bố tôi không sáng
lên khi gặp người thương gia Mi~ giàu sụ vì nghĩ đến thầy mà bớt giá 10 phần trăm? Tại sao ánh
mắt ấy chỉ sáng lên khi nhắc tới tên một nhà văn Việt Nam? Chẳng lẽ bố tôi hẹp
hòi chỉ thương học trò người Việt mà không thương học trò người Mi~? Cũng như tại sao bố tôi chán việc dạy học ở Mi~, mà vẫn
làm giáo sư gương mẫu, không bỏ lớp, không trễ nải bao giờ? Ông vẫn cắm cúi
soạn bài, tô kẻ chữ làm bảng hiệu cho lũ học sinh non dại. Nói theo kiểu đùa của em gái tôi, bố tôi chăm chỉ vì sợ bị Mi~ nó cười (hay so. mất việc!) Sự
việc không thể giản dị như thế. Tôi thắc mắc mà không nghĩ ra được câu trả lời, bên tai vẫn nghe văng vẳng
tiếng phong cầm của bố tôi. Chao ơi! Tiếng phong cầm của bố tôi!
***
Tháng ba năm 1996, ông tôi mất. Cụ Tổng Nho Sơn Tây đã nằm xuống. Trước mặt con cháu, bố tôi khóc cha mà than mình không làm được gì cho đất nước. Theo
lời bố tôi, ông nội tôi đã làm đường gạch cho
làng trong thời kỳ ông làm việc xã. Nhìn bố tôi đứng khóc cha, tôi rùng mình nghĩ đến một ngày
nào đó, tôi cũng phải khóc cha mẹ như bố tôi đã khóc thương ông tôi. Tôi tự
thôi thúc, giục giã, và biết mình phải làm gì ngay bây giờ.
Việc đầu tiên, tôi sẽ đi mua tặng bố tôi một chiếc phong cầm, cho dù ông không
còn tha thiết với đàn, và
bố con tôi không còn nói chuyện với nhau
qua tiếng đàn như hồi tôi còn
thơ ấụ.
Việc thứ nhì, tôi sẽ tìm mua cho được cuốn Quốc Văn Giáo
Khoa Thự Tôi sẽ chậm rãi mà đọc. Tôi đã khước từ nghề giáọ. Để giờ phút này, tôi
hiểu rõ và tự quay về với
bản chất của mình. Tôi với bố tôi
trong căn bản như nhạu. Dù muốn hay không muốn, tôi vẫn là sản phẩm của quốc
văn giáo khoa thự. Mà đã là quốc văn giáo
khoa thư thì tôi không thể là Goldman
Sachs.
Việc
thứ ba, tôi ngồi xuống trước máy vi tính. Và tôi bắt đầu viết. Không xây được
đường làng, tôi xin xây lòng nhân ái con
người qua lời tôi viết. Tôi trí mọn tài hèn nhưng muốn những lời tôi viết làm
cho độc giả tôi ngậm ngùi đủ mà nhỏ nước mắt cho nhau. Khi có giọt nước mắt
thật sự, là có lòng thương mà có lòng thương là hết khoảng
cách. Khi tôi cầm bút mà nhỏ nước mắt, giữa tôi với độc giả sẽ không cón khoảng
cách.
Có lần được đồng bào tôi mời diễn thuyết, tôi đã từng lộng ngôn trước mặt đám đông (có giáo sư Đỗ Quý Toàn làm chứng), tôi tuyên bố
rằng thế hệ di dân của tôi giống như những con người cá, nửa người nửa cá. Nghĩ lại, tôi thấy mình rởm ơi là rởm. Chẳng có vật thể nào gọi là
người cá. Đó là sự tưởng tượng của những người thủy thủ lênh đênh trên biển cả.
Khi mất đầu cá, mọc lên đầu người là có sự mất mát. Khi đôi chân người biến mất
đổi dạng thành đuôi cá là có sự mất mát. Phải có sự mất mát, mới nảy mầm cái
mới, cho dù cái mới đôi khi chẳng giống ai. Ông tôi nằm xuống, đó là sự mất mát
phải có, và thế hệ sau của chúng tôi lớn lên.
Cho nên tôi đang viết về sự mất mát. Sự thay đổi làm tê tái phần hồn. Đó là đời
sống. Sau ba mươi tư năm, tôi hiểu được sự mất mát trong đời bố tôi.
Và tôi cũng xin các diễn giả đừng đãi bôi về cái gọi là khoảng
cách thế hệ. Người Việt già và người Việt trẻ cứ chưởi bới nhau. Rồi đổ vào
khoảng cách thế hệ.
Cho nên tôi viết về chiếc phong cầm của bố tôi. Một vật vô tri bị lôi cuốn vào
dòng lịch sử. Sau ba mươi tư
năm tôi hiểu được sự mất mát trong đời bố tôi, và vì mẹ tôi theo ông như một cái bóng, cho
nên khi ông mất mát thì mẹ tôi chịu
đựng. Khi tôi thương yêu bố mẹ, thì chẳng có vấn đề khoảng cách thế hệ khỉ khô gì nữa.
Tôi xin thanh minh với độc giả. Những lời tôi kể đây không phải là lời viết về
bố tôi. Vì bố tôi chỉ là
một con người, có cái yếu, có cái mạnh, một người đàn ông đào tạo bởi văn hóa
và thời đại của mình, với tất cả nghi
hoặc, đam mê, sâu xé của một kiếp người, như ông đã viết về con lừa kéo gỗ, về cuộc đập phá
khi nghệ sĩ và môi trường cấu xé lẫn nhau. Nếu tôi viết về bố tôi, tôi phải
viết về một con người, với đủ bề mặt tốt xấu của người đó.
Tôi cũng không muốn như Maxine Hong
Kingston, khi viết xong cuốn tiểu thuyết là gia đình và cộng đồng từ
bỏ. Cái giá của sự thật khi cầm bút có lúc nặng hơn cái chết. Và đi tìm sự thật là một trọng trách khó khăn hơn đi làm
lịch sử. (Cái đau khổ của con người trước Thượng đế là đôi khi kẻ vụ lợi, xu
thời, đồ tể, buôn thịt, bán xương, đều có thể làm thành lịch sử).
Tôi không có khả năng hay tham vọng bưng vác trọng trách đi tìm sự thật bằng ngòi viết. Tôi chỉ xin viết về một vật thể vô tri,
tượng trưng cho cái đẹp, nếu không có bàn tay nghệ sĩ, chỉ nằm yên như một đồ vật trang sức. Nhưng khi
lửa cháy ngùn ngụt, thì
vật vô tri cũng quay cuồng theo định mệnh như
con người. Để giết một tổng thống, chiếc phong cầm vô tên tuổi, vô tội vạ, phi
chính trị của bố tôi cũng bị giếttheo chỉ vì nó nằm không đúng chỗ. Tôi chỉ xin viết về
cách tôi nhìn vật thể đó.
Tôi viết cho ai, hay viết
cho mình, điều đó không
quan hệ. Điều ao ước của tôi là ngòi bút của mình
luôn luôn đi theo vẻ đẹp và vẻ sáng trong cuộc đời ảm đạm của kiếp lưu đày. Cái trắng
trợn văng tục của realism, tôi xin nhường cho những người viết văn tục tĩu và dữ tợn. Sự tàn bạo của họ làm tôi kinh ngạc và kinh sợ.
Trên cuộc hành trình văn chương họ
đi từ điểm A tới điểm B bằng ngôn ngữ rổn rang cay độc, bằng sự phá sản tâm
linh, và. đối vói những kẻ viết khơi khơi vào tình dục chỉ để mà viết cho có tiếng vang, họ dùng
cả ngay thân xác phụ nữ như một công cụ câu khách hoặc để làm dáng như thể mình đang làm cách
mạng choo nữ quyền, một cuộc cách mạng mà phụ nữ Tây Phương đã làm trước, đã làm cũ, đã làm trâng tráo, và đã làm thất bại và thoái hoá!
Thật tình tôi không có tham vọng đi từ điểm
A tới điểm B cái kiểu như vậy, qua trò chơi kiểu cách văn chương. Đồng thời tôi không tin tâm linh
có thể phá sản, ngay cả trong ngục tù, cuồng tín, và đói rách. Vì tôi là kẻ hay mơ, tôi tin rằng
cái đẹp và vẻ sáng sẽ thay Thượng đế bảo vệ con người. Và tôi cũng không muốn đi đến một nơi chốn
nào bằng cái vòng xe đặt trên điển
hình xác thân phụ nữ, hay đem cái nhục nhã, hèn mạt của phận người ra
làm dụng cụ văn chương.
Tôi viết, vì tôi muốn đi tìm lại cho chính tôi (và cho bố mẹ tôi, những nhà giáo tị nạn
dạy văn chương) hình ảnh Chim Hót
Trong Lồng, Những Vì Sao Của Diệu, Mối Tình Chân, Chiếc Chiếu Hoa Cạp Điều, Con Sáo Của Em
Tôi, vân vân. Những cái đẹp đã
mất của một thờiđã qua sẽ chìm vào quên lãng.
Tôi viết vì sau khi đã đi
nửa cuộc đời, tôi mới biết mình
không phải là linh hồn Goldman Sachs. Tôi cũng chẳng có hân hạnh mang linh hồn Karl Marx, Angel, hay của bất cứ một danh
nhân nào Tôi chỉ hy vọng mình
là một chút gì sót lại của linh
hồn văn hóa giáo thư. Tôi sinh ra là Dương Thị Như Hội An, đổi thành Dương
Thị Như Hoài An vì bà mẹ nhân từ
nhưng mê tín của tôi không muốn con gái mang vào người sự đau khổ vì cái tên có dấu, tôi con gái đầu lòng
nhà giáo Dương Quốc Ngữ, và cháu nội cụ Tổng Làng Bún Dương Quốc Nho. Tôi là một
người đàn bà vì định mệnh mà
nói tiếng Việt chen tiếng Tây Parisien, tiếng Mĩ vu`ng MidWest (như độc giả đã thấy ở đây), đứa con gái nhậy cảm của một
nhà giáo vô danh gốc gác làm ruộng, đã từng là chủ nhân một chiếc phong cầm xấu số cũng vô danh nốt.
Tôi viết, vì tôi mãi mãi nhung
nhớ, và muốn giữ mãi trong
lòng, vẻ đẹp và vẻ sáng, từ chiếc phong cầm của bố tôi.
Dương Như Nguyện